Navy SEALs – lực lượng đột kích hải quân Mỹ

Navy SEALs là lực lượng lính đột kích trực thuộc hải quân Mỹ U.S NAVY, đây chính là một trong mười lực lượng đặc nhiệm mạnh nhất trên thế giới. Chữ SEAL được tạo nên từ Sea là biển cả và Air là không trung và Land là đất liền. Lực lượng đột kích hải quân SEAL được thành lập năm 1962, tiền thân của lực lượng này là đội phá mìn dưới nước của hải quân Mỹ, cho đến năm 1988 lực lượng này đã được mở rộng thành hai tiểu đoàn bao gồm 7 đại đội với quân số lên đến 1600 người. Lực lượng đột kích SEAL hiện đang thực thi các cuộc giao tranh cường độ thấp, ứng phó với các nguy hiểm phát sinh đột xuất và ám sát, tiêu diệt các mục tiêu cực kỳ nguy hiểm trên thế giới.

 Nhiệm vụ chủ yếu của đặc nhiệm SEAL là thực hiện các nhiệm vụ ban đêm nên chỉ có các binh sĩ có thị lực tốt mới có thể ra nhập lực lượng này, những ai đã hoàn thành khóa huấn luyện đều được công nhận là đã trải qua quá trình huấn luyện khắc nghiệt và gian khổ nhất trên thế giới, trong quá trình huấn luyện có đôi lúc phải chiến đấu bắn đạn thật, các chiến binh được huấn luyện năng lực chiến đấu và tác chiến theo đội hình trong những môi trường khắc nghiệt nhất, trước khi khóa huấn luyện kết thúc có tới hơn 70 % học viên bị loại. Do đó được là một thành viên của biệt đội Hải Báo là vinh dự cao nhất cho bất kỳ một chiến binh nào trong quân đội Mỹ.

 Các nhiệm vụ của lực lượng đột kích SEAL đều được lên kế hoạch tỉ mỉ tới từng chi tiết nhỏ, thậm chí trong nhiều trường hợp trước khi tác chiến thật SEAL còn dựng lại mô hình kiến trúc của mục tiêu theo tỉ lệ 1:1 để tập đột kích. Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị này bao gồm 5 nhiệm vụ chính sau:

 Xung đột không chính thức (UW): sử dụng chiến thuật và chiến tranh du kích và các chiến thuật chia thành các phân đội nhỏ tiến hành các cuộc xung đột không chính thức bao gồm phá hoại nguồn cung cấp của quân địch, phục kích, đánh úp quân địch, tiến hành các hoạt động đánh nhanh rút gọn nhắm vào các mục tiêu giá trị của quân địch.

 Phòng vệ bên ngoài lãnh thổ (FID): nhằm xây dựng tình hữu nghị và huấn luyện binh lính cho các nước đồng minh, trong chiến dịch Bão táp sa mạc, đặc nhiệm SEAL đã huấn luyện kỹ năng chiến đấu trên biển cho chiến binh Kuwait nhằm phản công quân Iraq tấn công và chiếm đóng trái phép nước này.

 Hành động trực tiếp (DA): tấn công trực tiếp vào các mục tiêu trên biển và trên bộ của quân địch nhằm giải cứu con tin.

 Chống khủng bố (CT): ngăn chặn và tiêu diệt các tổ chức và hành động khủng bố, tiến hành các hoạt động bảo vệ quân đội và dân thường

 Trinh sát đặc biệt (SR): bao gồm các hoạt động thu thập tin tức tình báo, tiến hành giám sát và theo dõi sự di chuyển và vị trí địa lý của quân địch.

 Khi chưa có nhiệm vụ được giao, các chiến binh này vẫn tiếp tục nằm trong thời gian huấn luyện nhằm củng cố và nâng cao các kỹ năng chiến đấu để khi được giao nhiệm vụ thật các chiến binh này sẽ hoàn thành xuất sắc và nhanh chóng.

 Tổ chức nhân sự:

 Lực lượng đột kích Navy SEAL có tên gọi đầy đủ là lực lượng đột kích hải báo hải quân Mỹ. Lực lượng này khi tác chiến được chia ra thành nhiều nhóm nhỏ chỉ bao gồm từ 1 đến 2 người, tối đa không vượt quá 16 người, trong đó phổ thông nhất là tác chiến theo đội hình tổ 8 người. Các nhiệm vụ đều được bảo mật thông tin ở mức tuyệt mật trong các tình huống nhỏ nhất. Kể cả trong thời bình thì lực lượng này vẫn nằm trong tình trạng chiến đấu cao nhất và được huấn luyện ở mức độ gian khổ nhất vì chỉ có đổ mồ hôi thật nhiều trên thao trường mới có thể giảm đổ máu trên chiến trường.

 

 Trên toàn nước Mỹ hiện có khoảng hơn 2000 chiến binh SEAL đang trong thời gian tại ngũ. Từ năm 1962, đích thân tổng thống Kennedy thành lập lực lượng lính đặc nhiệm mũ nồi xanh đầu tiên đến nay, bất luận trong diễn tập hay thực hiện nhiệm vụ thì lực lượng đột kích SEAL đều vô cùng xuất sắc, trở thành tấm gương noi theo của các lực lượng đặc nhiệm khác. Trong các cuộc giao tranh hiện đại đều không thể thiếu lực lượng này, điển hình là việc tiêu diệt trùm khủng bố Bin Laden.

 Một đơn vị tác chiến của SEAL bao gồm từ 3 đến 40 người, mỗi đơn vị tác chiến có một tổng bộ, một tổng bộ bao gồm một hàm trung tá (O-5), một sĩ quan chỉ huy (E-8), một sĩ quan lên kế hoạch tác chiến (O-2/3) phụ trách thực thi nhiệm vụ có một sĩ quan mang hàm thượng sĩ (E-6/7), dưới tổng bộ có 2 tiểu đội 1 người bao gồm 2 sĩ quan và 14 lính, có thể bổ sung thêm 2 sĩ quan EOD chi viện thành 18 người. Khi tác chiến sẽ phân ra thành 8 tổ hỏa lực 4 người yểm trợ lẫn nhau. Một tổ hỏa lực bao gồm một xạ thủ bắn tỉa, một người chuyên phụ trách các hoạt động phá hoại, một lính thông tin, một kỹ sư hàng hải, một cứu thương, một hỏa lực chi viện, một thuyền trưởng, một lái xe thiết giáp hạng nặng, một lính sử dụng vũ khí hạng nặng, một người kiến tạo các địa điểm bí mật, một người phụ trách tác chiến trên không, một người phụ trách leo núi, một hoa tiêu, một nhân viên thẩm tra thông tin, một công binh, một giám sát kỹ thuật. Năm 1987, phân đội thứ 6 của SEAL được đổi tên thành DEVGRU nghĩa là lực lượng phát triển chiến tranh đặc biệt của hải quân Mỹ. Trên thực tế, lực lượng này vẫn được mọi người thừa nhận là lực lượng SEAL số 6. Các phân đội số 2, 4, 8, 10 hiện vẫn đang đóng tại căn cứ hải quân Litte Creek thuộc bang Victoria Mỹ.

  Bối cảnh thành lập:

 Sự thành lập nên SEAL phải nói đến lực lượng lính đột kích S&R và lực lượng rà phá bom mìn NCDUs của hải quân Mỹ. Đợt triển khai diễn tập huấn luyện chung đầu tiên diễn ra vào năm 1942 tại Florida Mỹ với mục đích ban đầu là thành lập nên các nhóm thám báo nhỏ sử dụng thuyền thâm nhập vào hậu phương quân địch để thu thập tin tức tình báo. Trong hế chiến thứ 2, các đơn vị này đã nhiều lần xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ thâm nhập vào hậu phương quân địch. Sau khi chiến tranh kết thúc, lực lượng này bị giải tán nhưng các kỹ năng chiến đấu, phương án tác chiến là cơ sở và tiền đề cho các đơn vị SEAL ngày nay.

 Lực lượng chiến đấu và rà phá bom mìn dưới nước của hải quân Mỹ được thành lập vào ngày 6 tháng 6 năm 1943, đây cũng có thể coi là tiền đề phát triển cho lực lượng người nhái của hải quân Mỹ ngày nay. Mục đích thành lập ban đầu của lực lượng này là phá hoại các công sự phòng ngự của địch và rà phá thủy lôi, giúp cho việc đổ bộ trở nên dễ dàng thuận lợi hơn. Việc lên kế hoạch huấn luyện ban đầu do tướng Kauffman phụ trách, nhân lực được lấy từ bộ phận kiến trúc và kỹ sư của hải quân, nội dung huấn luyện gồm tháo gỡ, kích nổ các thiết bị nổ cùng các kỹ năng chiến đấu khác, nhờ đó về sau Kauffman được vinh danh là ông tổ của binh chủng rà phá bom mìn dưới nước.

 Lịch sử phát triển:

 Năm 1942, lục quân và hải quân Mỹ phối hợp mở trường đào tạo tại Florida để kết hợp giữa các kỹ năng và cách thức tác chiến trên bộ với các kỹ năng bơi lội và rà phá bom mìn để cho ra đời các chiến binh đặc biệt gọi là Combat Demolition Units, NCDUs. Cũng vào năm này, lực lượng này đã được tung vào tham chiến trên chiến trường Bắc Phi với tên gọi: chiến dịch Torch.

 Mùa xuân năm 1943, hải quân Mỹ lựa chọn lính tình nguyện để lập nên phân đội SEAL thế hệ đầu tiên với tên gọi NCDU – Navy Combat Demolition Units có nhiệm vụ dọn đường cho quân chủ lực đổ bộ, sau đó phát triển thành CSRU – Combat Swimmer Reconnaissance Units. Bất kể trên các chiến trường Đại Tây Dương hay Thái Bình Dương đều trở thành nơi biểu diễn nghệ thuật quân sự của các đơn vị SEAL.

 Trong chiến dịch Tarawa, rất nhiều thủy quân lục chiến Mỹ bị chết đuối, bị mắc kẹt ở các rặng san hô, bị chết đuối hoặc không thể đổ bộ được tới bờ biển hoặc bị hỏa lực địch tiêu diệt, thiếu tướng hải quân Richard Turner đã ra lệnh thành lập biệt đội Underwater Demolition Teams, lực lượng chủ yếu được tuyển chọn từ lính công binh hải quân Seabees. Lính tình nguyện được chia nhỏ ra thành từng tiểu đội đặc biệt chuyên bơi lặn dưới nước để thám báo và về sau trở thành lực lượng SEAL ngày nay.

 Năm 1960, mỗi binh chủng đều thành lập lực lượng đặc biệt cho riêng mình, Underwater Demolition Teams được đổi tên thành lực lượng đột kích đặc biệt của hải quân Mỹ.

 Năm 1962, lực lượng SEAL được chính thức thành lập và phân thành 2 biệt đội, một biệt đội trực thuộc hạm đội Đại Tây Dương và một biệt đội trực thuộc hạm đội Thái Bình Dương. Các biệt đội này bắt đầu thực hiện các cuộc tấn công bí mật, chống du kích ở vùng nước biển và vùng nước ngọt. Hải quân đồng thời lập nên lực lượng hỗ trợ quân sự hải quân Naval Operations Support Group và hai đơn vị độc lập để hỗ trợ cho UDT và SEAL là đơn vị thuyền bè hỗ trợ Boat Support và đơn vị bờ biển Beach Jumper có nhiệm vụ điều động binh lực, lên kế hoạch hành động, trinh sát mục tiêu và chi viện. Trong chiến tranh Việt Nam, UDT phụ trách trinh sát còn SEAL phù trách tấn công.

 Năm 1963, lực lượng SEAL được điều tới Đà Nẵng tham chiến và đặt dưới chỉ huy của trung ương tình báo Mỹ.

 Năm 1964, lực lượng SEAL nằm dưới sự điều hành của CINC.

 Năm 1967, đơn vị hỗ trợ chi viện cho SEAL là Naval Operations Support Group cũng được đổi tên thành tiểu đoàn tác chiến đặc biệt hải quân – Naval Special Warfare Groups, NSWGs, cùng với các đơn vị đặc nhiệm khác thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt.

 Năm 1983, UDT cũng được đổi tên thành SEAL Delivery Vihicle Team.

 Năm 1987, đơn vị đặc nhiệm SEAL số 6 được đổi tên thành Development Group, DEVGRU – đơn vị phát triển tác chiến đặc biệt hải quân Mỹ.

 Năm 2002, trong chiến dịch Enduring Freedom tại Philipine, SEAL đã tiêu diệt thủ lĩnh Abu Sayaff. Tháng 3 năm 2002, SEAL tham gia chiến dịch Anaconda tại Afghanistan.

 Ngày 1 tháng 5 năm 2011, biệt đội SEAL số 6 đã tiêu diệt thủ lĩnh khủng bố Bin Laden.

 Sáng sớm ngày 6 tháng 8 năm 2011, trực thăng Blackhawk của quân Mỹ tham gia đột kích sở chỉ huy của quân Taliban tại Afghanistan bị quân Taliban bắn rơi làm 30 lính Mỹ và 7 quân chính phủ hy sinh, trong đó có 22 người nằm trong lực lượng SEAL.

 Cho tới thời điểm hiện nay, SEAL vẫn đang là lực lượng vũ trang hàng đầu trên thế giới từ trang bị cho tới các kỹ thuật chiến đấu. Trong tương lai chúng ta sẽ còn được chứng kiến nhiều giai thoại về lực lượng này trong các cuộc chiến đấu chống lại các lực lượng khủng bố bên ngoài nước Mỹ.

Trần Anh Tuấn

Viết bình luận

Note: HTML is not translated!
    Bình thường           Hay